Chân lý qui ước
Triệt Như - Publié le 28/04/2026 - Vues : 1
Đây là một chủ đề quan trọng, có thể nói quan trọng nhất trên con đường tu học của mình. Hôm nay xin chia sẻ với nhau trong tinh thần “kiến hòa đồng giải”.
Trước nhất, ta cần hiểu “chân lý” là gì?
Chân lý là sự thật. Sự thật (truth) là gì? Cái có trước giác quan của ta. Mọi người bình thường đều chấp nhận là nó có hiện hữu. Có khi gọi là thực tại (reality). Khi nói là thực tại thì những sự thật này sâu sắc hơn, có thể là được nhận biết bằng trí tuệ bát nhã, chứ không còn qua giác quan nữa.
Đây chỉ là giải thích đơn giản, thô sơ nhất, để bắt đầu đi vào chân lý thứ nhất.
CHÂN LÝ QUI ƯỚC, hay Tục Đế
(conventional truth, common truth)
Qui ước là do con người bình thường đặt bày ra, qui ước với nhau, chấp nhận để dễ hiểu nhau, để có thể sống chung trong trật tự hòa hợp. Vì do chính chúng ta suy nghĩ, suy luận và đặt ra nên những sự thật này thay đổi tùy theo mỗi tập thể, mỗi dân tộc. Thí dụ dễ thấy nhất là ngôn ngữ, chữ viết, mỗi quốc gia có ngôn ngữ riêng, có chữ viết riêng. Trong thực tế còn có những sự thật khác biệt vi tế hơn nữa: mỗi vùng lại phát âm khác nhau, như người miền Bắc, người miền Trung hay người miền Nam Việt nam phát âm khác nhau. Hơn nữa mỗi vùng lại còn sử dụng tên gọi khác nhau cho cùng một vật. Ngoài ra, một người có rất nhiều tên gọi đồng thời: con, cha, chồng, anh, em, chú, bác, v.v…
Đối với cha mẹ thì ta là con.
Đối với mấy đứa con, thì ta là cha.
Đối với vợ, thì ta là chồng.
Đối với mấy đứa em, thì ta là anh.
Đối với anh, thì ta là em.
Đối với mấy đứa cháu thì ta là chú hay bác v.v…
Như vậy có nghĩa là gì? Con người tha hồ đặt ra những tên gọi, những qui ước. Cho nên đặc điểm của chân lý qui ước là:
-
Do con người chủ quan đặt ra.
-
Những sự thật này nhiều vô số, không có giới hạn.
-
Những sự thật này thay đổi luôn luôn qua không gian và qua thời gian.
-
Nó có giá trị tương đối.
-
Con người phải chấp nhận, sống đúng theo những chân lý phổ biến, như luật pháp, luật lệ giao thông, lễ nghi truyền thống, ngôn ngữ, tên gọi v.v… của xã hội mình đang sống.
Những sự thật qui ước có nhiều biểu hiện khác nhau, có khi bằng: tên gọi, lời nói, âm thanh, ký hiệu, cử chỉ, màu sắc v.v…
Thí dụ: tên của mình do cha mẹ đặt ra, ai cũng gọi mình tên đó, là một chân lý qui ước.
Tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Đức…là những chân lý qui ước của mỗi quốc gia.
Tiếng còi xe cứu thương, tiếng còi xe cảnh sát…là âm thanh qui ước phải tuân theo.
Đèn xanh, đèn đỏ, đèn vàng là những màu sắc qui ước của luật giao thông phải tuân theo.
Những ký hiệu vẽ lằn ranh xe chạy, là qui ước, ta cũng phải tuân theo v.v…
Trong khi tất cả mọi vật đều là những vật trống rỗng. Ngày xưa thầy Thiền Chủ gọi là “vật trống rỗng” (bare things). Chúng ta lắng tâm lại, nhìn ngắm thật khách quan, ta sẽ thấy ngay vật nào trước mắt cũng là vật hoàn toàn tĩnh lặng, không có tên, không có thuộc tính, không có phẩm chất. Nó chỉ là chính nó, khi ta không diễn nói gì, thì nó hiện nguyên hình là chính nó mà thôi. Từ đó, chúng ta sẽ nhận ra những cái mà chúng ta gọi là chân lý qui ước, nó như những lớp võ dày cứng bao bọc hiện tượng thế gian, làm cho ta không nhìn thấy “vật trống rỗng”, mới là bản chất của vật, là chân lý không bao giờ thay đổi.
Vậy, từ không biết bao đời, mình sống trong thế giới hư ảo của lời nói, của hình sắc, âm thanh, tên gọi …đều là qui ước do mình đặt ra, mình buồn vui theo chúng, trong khi tất cả hiện tượng quanh mình đều hoàn toàn khách quan, hoàn toàn tĩnh lặng, hoàn toàn trong sáng, hoàn toàn trống rỗng. Vì thế đức Phật nói nguyên nhân của chuỗi sinh tử luân hồi là vô minh. Phải dùng trí tuệ mới cắt được vô minh.
Trong suốt sáu năm tu tập gian nan, nào là thực hành bốn tầng Thiền vô sắc không đưa tới “phát huy thượng trí và kinh nghiệm niết bàn”, nào là khổ hạnh trong rừng sâu, sức khỏe kiệt quệ, Đức Phật vẫn chưa tìm ra được Đạo, chân lý cuối cùng. Bấy giờ, buông bỏ tất cả mọi tìm cầu bên ngoài, buông bỏ cả cái quyết tâm đạt cho được cái chí nguyện khi bỏ nhà ra đi “tìm cầu vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, niết bàn”. Tâm bình an, thảnh thơi. Ngài nhớ lại kinh nghiệm hồi còn thơ ấu. Khi ấy, trong ngày lễ Hạ Điền (ngày lễ bắt đầu mùa cày cấy) vua Tịnh Phạn xuống ruộng làm lễ, một mình thái tử Siddhattha ngồi trên đường, dưới bóng mát cây jambu. Tâm thanh thản, yên lặng, chợt ngài cảm nhận tâm đứng yên, hỷ lạc tràn đầy. Bây giờ ta 35 tuổi, tâm ta cũng thanh thản như hồi 10 tuổi, ta thử đi vào tâm yên lặng đó. Ngài ngồi yên nhè nhẹ khép mắt, quan sát tâm. Một niềm hỷ lạc tươi mát tỏa ra, sức sống tràn đầy. Ánh nắng ban mai xuyên qua cành lá, từ từ mở mắt, ngài nhìn thấy lá bàng lấp lánh, thiên nhiên đang tươi sáng, tĩnh lặng hoàn toàn. Ngài tự hỏi:
- Đây có phải là con đường đưa tới giác ngộ không?
Ngài tự biết:
- Đây là con đường đưa tới giác ngộ.
Ngài lại tự hỏi:
- Ta có sợ chăng niềm hỷ lạc này?
Ngài lại tự trả lời:
- Ta không sợ niềm hỷ lạc này.
Nhìn xuống bãi cỏ trước mặt, ai đã cho ta ổ bánh kheer này? Ngài tự nghĩ nơi đây gần thôn xóm, có người qua lại, thiệt không thuận tiện cho ta dụng công. Ngài quyết định băng qua sông Niranjana, tới rừng cây cổ thụ Pipphala (hay pippala/ pippal/ Bodhi tree) hoang vắng, ngồi xuống dưới một tàng cây che nắng che mưa, ngài bước vào cảnh giới nội tâm hoàn toàn tỉnh thức, yên lặng, trong sạch, chiếu sáng. Dòng tâm tuôn chảy từ hỷ lạc tràn đầy lần lần an lạc, rồi thanh thản nhẹ nhàng, vắng lặng tịch diệt. Không còn người, cảnh cũng tan biến. Ngài nhận ra:
-
Chính mình đã sinh ra, rồi già, bệnh và chết rồi lại sinh ra nữa. Vô số đời sống đã lặp lại, là định luật tự nhiên.
-
Người khác cũng giống như vậy, hễ có sinh ra là phải có tử, lặp đi lặp lại mãi vì sinh là nhân thì tử là quả. Đời này là nhân, đời sau là quả.
-
Tại sao lại tái sinh hoài? Vì đã tạo ra nghiệp. Nghiệp là sự tương quan nhân quả. Do đâu có nghiệp? Là vì có những tham đắm, gọi là lậu hoặc. Nếu tâm hoàn toàn trong sạch, không còn lậu hoặc thì chấm dứt tái sinh. Tạm đặt tên đó là quả vị Arahant: “Sanh đã tận. Phạm hạnh đã thành. Việc cần làm đã làm xong. Sau đời này không có đời sống nào khác nữa”. Cũng gọi là niết bàn, cảnh giới tịch diệt của tâm, thoát khổ.
Sau đó, ngài có thêm lần chứng ngộ thứ hai mới thông suốt tới những chân lý cuối cùng, gọi là Vô thượng Chánh đẳng giác (Anuttara Samma Sambodhi), quả vị Phật.
Cốt lõi lần chứng ngộ thứ hai là Y DUYÊN TÁNH (Idappaccayatā) hay có thể nói là LÝ DUYÊN KHỞI (Paṭiccasamuppāda). Chân lý này cô đọng trong 4 câu:
“Cái này có, cái kia có,
Cái này sinh, cái kia sinh,
Cái này không, cái kia không,
Cái này diệt, cái kia diệt.”
Tuy nhiên qua lần chứng ngộ này, ngài đã nhận ra tất cả những bí ẩn:
-
Do nhân và duyên mà con người và vạn pháp có mặt.
-
Do nhân và duyên mà con người và vạn pháp sống và thay đổi.
-
Do nhân và duyên mà con người và vạn pháp hoại diệt rồi lại tái sinh.
Bấy giờ, đức Phật không muốn đi giảng pháp: (bài kinh Thánh Cầu)
Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Idapaccàyata Paticcasamuppada (Y Tánh Duyên Khởi Pháp); sự kiện này thật khó thấy; tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự trừ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta!" Này các Tỷ-kheo, rồi những kệ bất khả tư nghì, từ trước chưa từng được nghe, được khởi lên nơi Ta:
Sao Ta nói Chánh pháp,
Được chứng ngộ khó khăn?
Những ai còn tham sân,
Khó chứng ngộ pháp này.
Đi ngược dòng, thâm diệu,
Khó thấy, thật tế nhị,
Kẻ ái nhiễm vô minh,
Không thấy được pháp này.
Rồi này các Tỷ-kheo, với những suy tư như vậy, tâm của Ta hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp.
Này các Tỷ-kheo, lúc bấy giờ Phạm thiên Sahampati khi biết được tâm tư của Ta; với tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Than ôi, thế giới sẽ tiêu diệt, thế giới sẽ bi hoại vong, nếu tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác hướng về vô vi thụ động, không muốn thuyết pháp". Rồi này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co, hay co cánh tay đang duỗi; cũng vậy, vị ấy biến mất từ thế giới Phạm thiên, và hiện ra trước mặt Ta. Này các Tỷ-kheo, rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y một bên vai chắp tay hướng vái Ta và bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bi nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp".
Này các Tỷ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng hay hồ sen trắng có một số hoa sen xanh, sen hồng, hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước đẫm ướt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây với Phạm thiên Sahampati:
Cửa bất tử rộng mở,
Cho những ai chịu nghe.
Hãy từ bỏ tín tâm,
Không chính xác của mình.
Tự nghĩ đến phiền toái,
Ta đã không muốn giảng,
Tối thượng vi diệu pháp,
Giữa chúng sanh loài Người.
Bấy giờ Đức Thế Tôn quyết định sẽ giảng pháp. Từ đó ngài tạm thiết lập những pháp dễ, đơn giản dành cho hạng trung căn, những pháp sâu sắc hơn dành cho thượng căn, và một nguyên tắc cũng quan trọng là tùy căn tánh mỗi người mà giáo hóa thích hợp. Về sau, chư Tổ tạm đặt tên Tục đế bát nhã và Chân đế bát nhã, Phần này xin trình bày trong bài kế tiếp.
Thiền viện, 15- 3- 2026
TN
Nguồn : Chân lý qui ước - www.tanhkhong.org